Kiến Thức Tổng Hợp

Giới thiệu Cây Hương Thảo (Phần 2)

Ngày đăng: 15/01/2015, 11:34 am


Mô tả: Cây hương thảo nhỏ thông thường đạt 45cm và có thể phát triển cao đến 200cm, do cây phát triển chậm nên khó đạt đến chiều cao này.

Cây Hương Thảo phân nhánh và mọc thành bụi. Lá nhiều, hẹp, hình dải, dai, có mép gập xuống, không cuống, màu xanh sẫm và nhẵn ở trên, phủ lông rải rác màu trắng ở mặt dưới.Hoa Hương Thảo xếp 2-10 ở các vòng lá, dài cỡ 1cm, màu lam nhạt hơi có màu hoa cà với những chấm tím ở phía trong các thuỳ. Toàn cây có mùi rất thơm, rất phù hợp trồng trong chậu làm cây cảnh tuyệt vời.

Hoa hương thảo

Bộ phận dùng: Ngọn cây có hoa và lá, chủ yếu là lá khô. Lá Cây Hương Thảo chiết xuất làm tinh dầu hoặc băm nhỏ trước khi sử dụng làm gia vị cho các món ăn. Lá Cây Hương Thảo có thể bảo quản khô trong chai lọ thủy tinh kín hoặcLá Cây Hương Thảo bảo quản tươi đựng trong túi nhựa kín để trong tủ mát, nếu bạn bảo quản tốt có thể đến 6 tháng.

Nơi sống và thu hái: Cây Hương Thảo có xuất xứ từ vùng Địa Trung Hải, được trồng nhiều ở Nam Âu châu, Tây Á và Bắc Phi trước đây, được nhập trồng ở nước ta, tại một số tỉnh miền Trung và miền Nam (theo A. Pételot). Thường trồng bằng cách giâm cành hay gieo hạt. Khi thu hoạch, dùng các ngọn cây có hoa, đem phơi hay sấy khô, đập lấy lá. Lá tươi được dùng làm gia vị.

Có 2 loại cây hương thảo

Tính vị, tác dụng: Hương Thảo có vị chát, nóng, mùi thơm nồng (tương tự mùi thông kết hợp với long não), hơi se, có tính tẩy uế và chuyển máu, dùng với liều thấp, nó gây sự dồn máu ở các cơ quan vùng bụng và kích thích sự tiết dạ dày và ruột; nó cũng lợi tiểu. Với liều cao, nó gây co thắt và chóng mặt. Tinh dầu Hương Thảo có tác dụng thông ruột, lợi mật và lợi tiểu. Người ta biết được tác dụng của Hương Thảo là do sự có mặt của Acid Rosmarinic và các Flavonoid, nó cũng có những tính chất chống oxy hoá cũng do có Acid Rosmarinic.


Thành phần hóa học: Cây chứa tinh dầu và tanin. Tinh dầu (0,5% ở cây khô, 1,1-2% ở lá, 1,4% ở hoa) mà thành phần gồm có a-pinen (tới 80%), terpen, borneol, acetat bornyl, camphor, cineol và một sesquiterpen (caryophyllen). Nếu mới cất, tinh dầu là một chất lỏng không màu hay vàng vàng, về sau sẫm dần và cứng lại, có thể hoa tan vào rượu theo bất kỳ tỷ lệ nào. Cây chứa choline, một glucosid không tan trong nước, một saponosid acid, các acid hữu cơ (citric, glycolic, glyeeric) và hai heterosid là romaside và romarinoside; còn có acid rosmarinic.


Công dụng, chỉ định và phối hợp: ở châu Âu, người ta cũng dùng Lá Hương Thảo làm Pommat và thuốc xoa trị thấp khớp và đau nửa đầu. Nước hãm (nấu một nắm lá trong ½ lít nước để chiết hết thuốc) dùng rửa các vết thương nhiễm trùng và lâu khỏi. Dùng trong nước hãm này dùng lợi tiểu và gây tiết mật. Lá tươi dùng làm gia vị.


- Cây Hương Thảo cũng rất được ưa chuộng ở Philippin. Người ta dùng nước hãm để điều trị viêm giác mạc nhẹ bằng cách rửa mắt 3-4 lần trong ngày. Người ta cũng dùng nấu nước cho phụ nữ mang thai tắm và dùng để tắm hơi trị thấp khớp, xuất tiết và bại liệt. Toàn cây gây kích thích và lợi trung tiện trong trường hợp trướng bụng, khó tiêu.

- Hy Lạp cổ đại, sinh viên mặc những vòng Hoa Hương Thảo trong mái tóc của mình trong khi học tập cho kỳ thi vì họ tin rằng Hương Thảo sẽ giúp cải thiện trí nhớ của họ. Trong thời Trung cổ, người đàn ông và phụ nữ đặt nhánh Cây Hương Thảo dưới gối của họ để tránh khỏi ma quỷ và ngăn chặn những giấc mơ xấu.

- Tinh dầu Hương Thảo được sử dụng ở Ấn Độ làm thuốc lợi trung tiện. Tinh dầu này tham gia vào thành phần Eau de Cologne; người ta nói rằng nó giữ độ bóng của tóc và cũng là một chất kích thích khuyếch tán. Có thể dùng trong với liều 3-5 giọt, nhưng thông thường chỉ dùng đắp ngoài.

- Trong khu vườn tu viện thời trung cổ, Cây Hương Thảo được chăm sóc như một loại dược thảo. Có giá trị cho các hiệu ứng an thần của nó, thường xanh đậm thơm này được cho là để chữa bệnh đau đầu, tăng cường tóc và hỗ trợ bộ nhớ và sức mạnh của sự tập trung.


http://www.sansvc.vn/